Người Việt Âu Lạc đã có chữ viết từ trước thời Hán thuộc. Năm 43 Mã Viện thu thập trống đồng rồi đem nấu lại làm mất dấu tích bộ chữ trên mặt di sản văn hóa. Sang đời Sĩ Nhiếp (187-226) thì cho lệnh đốt hết sách cổ nhằm triệt để Hán hóa. Nhưng những công trình sưu khảo đang góp phần phục hồi bộ chữ Việt cổ vốn ít nhiều liên quan đến chữ Việt mới mà nay đã được Latinh hóa thành chữ Quốc ngữ.

Khối cự thạch khắc chữ ở bãi đá Nấm Dần
Sách Tân Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh viết trong thế kỷ 15 gọi lối ký tự Việt cổ là chữ Khoa đẩu do có hình những con nòng nọc. Sách Thông Chí của Trịnh Tiêu biên soạn trong đời Tống có đoạn viết rằng “Đời Đào Đường, nam di Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đã biếu một con rùa thần, rùa ước được ngàn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ Khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến ngày nay. Vua Nghiêu cho chép lấy gọi là Quy lịch”.
Khác với chữ Hán tượng hình, Khoa đẩu của người Việt cổ là thứ chữ tượng thanh gồm nhiều ký âm viết thành hàng ngang như chữ Quốc ngữ ngày nay.
Gần đây nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền sắp xếp lại thành 47 chữ cái cùng phép chính tả và vài niêm luật. Trước đó trong khoảng năm 1850, vị quan Phạm Thận Duật cũng là nhà văn hóa lớn đã tỉ mỉ ghi chép, phân loại các dị bản chữ cổ ở vùng Tây Bắc.


















